Wednesday, 23 Jun 2021
Tài liệu kỹ thuật Tin tức

Ảnh hưởng của nguồn carbohydrate đối với ương tôm theo công nghệ Biofloc

Nguồn carbon hữu cơ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng trong hệ thống biofloc

anh huong tinh bot uong tom bioloc

Công nghệ Biofloc là một hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản hiệu quả về tài nguyên, hỗ trợ việc sử dụng tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản (như nước ngọt, đất và thức ăn thủy sản).

Việc bổ sung carbohydrate hữu cơ (CHO) vào hệ thống biofloc cung cấp nguồn năng lượng cho các vi sinh vật chuyển hóa amoniac hoặc nitrat thành sinh khối vi sinh vật. Quá trình này giúp giảm mức amoniac và nitrit, do đó giảm nhu cầu thay nước. Đồng thời, sinh khối vi sinh vật được tạo ra làm thức ăn tự nhiên cho đối tượng nuôi và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn. Hệ thống Biofloc cũng có lợi cho các phản ứng miễn dịch của tôm thẻ chân trắng chống lại các tác nhân lây nhiễm.

Nguồn CHO tiềm năng có thể bao gồm những nguồn đơn giản như mật đường, glycerol và glucose, và những nguồn phức tạp như bột và tinh bột. Các nguồn CHO khác nhau dẫn đến các giá trị dinh dưỡng khác nhau của biofloc. 

Trong công nghệ biofloc, thức ăn và CHO đại diện cho các nguồn vật liệu hữu cơ chính đi vào hệ thống. Sau khi cho ăn, sự tiêu thụ oxy và bài tiết amoniac của tôm tăng lên đáng kể, tạo ra sự dao động cao về nồng độ amoniac hàng ngày. 

Để đánh giá hiệu quả dùng tinh bột ngô hay mật rỉ đường khi ương tôm thẻ biofloc, các nhà nghiên cứu đã thực hiện thí nghiệm: Tôm (0,075 ± 0,006 g) được thả với mật độ 250con/m2 vào các bể nghiệm thức tương ứng. Sau khi cho tôm ăn, tinh bột ngô và mật rỉ đường được bổ sung ngay lập tức. Mỗi kg thức ăn cho tôm ăn được thêm vào 0,6kg tinh bột ngô hoặc 1,1kg mật rỉ đường để duy trì tỷ lệ C: N đầu vào là 12.1

Ảnh hưởng đến tăng trưởng của tôm

Cả hai phương pháp xử lý bổ sung tinh bột ngô và mật đường đều dẫn đến hàm lượng nitơ amoni trong nước thấp. Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và chất rắn lơ lửng dễ bay hơi (VSS) ở cả hai nghiệm thức đều tăng theo thời gian và không có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức. Hàm lượng protein trong chất khô của biofloc thay đổi từ 34 – 48%, cao hơn trong xử lý mật đường.

Xử lý bằng tinh bột ngô dẫn đến tốc độ tăng trưởng, sản lượng, trọng lượng cơ thể trung bình của tôm cao hơn đáng kể và FCR thấp hơn so với bổ sung mật đường. Chất lượng nước ổn định hàng ngày, nhưng thay đổi qua các tuần. Sự tích lũy cacbon và nitơ trong hệ thống không có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức.

Ảnh hưởng đến chất lượng nước

Việc bổ sung tinh bột ngô mang lại sản lượng tôm tốt hơn đáng kể, có thể là do điều kiện môi trường ổn định hơn trong xử lý tinh bột ngô, đặc biệt là cacbon hữu cơ hòa tan và nitơ so với xử lý mật đường. Chất lượng nước ổn định làm giảm căng thẳng và cải thiện tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nuôi. Nồng độ cacbon và nitơ hữu cơ thấp hơn và ổn định hơn trong nước của xử lý tinh bột ngô cho thấy rằng cộng đồng vi sinh vật trong hệ thống thí nghiệm khác nhau về thành phần và hiệu quả hơn so với xử lý mật đường.

Vậy nên dùng tinh bột ngô hay mật rỉ đường

Kết quả cho thấy rằng việc lựa chọn nguồn carbon hữu cơ đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công của hệ thống biofloc. Tinh bột ngô tốt hơn mật đường để tăng cường sự phát triển của tôm giống L. vannamei . Khi biofloc được thiết lập, chất thải nitơ có thể được kiểm soát một cách hiệu quả, dẫn đến sự dao động nitơ và carbon trong nước nuôi tương đối ít vào ban ngày.

Nguồn Auaculturealliance

Đăng bình luận